KHÔNG THỂ NÍN LẶNG – Mục Sư Nguyễn Mạnh Cường

Sự kiện Đức Thánh Linh giáng lâm trên Hội Thánh Đầu Tiên được chép lại trong sách Công-vụ như sau: “Đến ngày lễ Ngũ-tuần, môn đồ nhóm họp tại một chỗ. Thình lình có tiếng từ trời đến như tiếng gió thổi ào ào, đầy khắp nhà môn đồ ngồi. Các môn đồ thấy lưỡi rời rạc từng cái một, như lưỡi bằng lửa hiện ra, đậu trên mỗi người trong bọn mình. Hết thảy đều được đầy dẫy Đức Thánh Linh, khởi sự nói các thứ tiếng khác, theo như Đức Thánh Linh cho mình nói” (Công-vụ 2: 1 – 4).

Dù không có mặt trong ngày lễ Ngũ Tuần hôm ấy với các môn đồ của Chúa để cảm nhận trọn vẹn những cảm xúc mà quang cảnh đó đã mang đến cho họ, nhưng chúng ta cũng có thể hiểu được phần nào cảm giác ngây ngất, xuất thần, thiêng liêng, vui mừng của họ trước sự kiện Đức Thánh Linh giáng lâm một cách siêu nhiên, trong “tiếng từ trời như tiếng gió thổi ào ào” và giữa cảnh “lưỡi bằng lửa hiện ra, đậu trên mỗi người.” Tuy nhiên, Đức Thánh Linh giáng lâm không đến chỉ để đem lại cho các môn đồ của Chúa những cảm xúc đó để rồi chúng phai nhạt đi như những cảm xúc bình thường của con người; Ngài đến để “đầy dẫy” trong họ, ban cho lòng họ một sức mạnh phi thường, để rồi bật ra thành những sứ điệp trong “các thứ tiếng khác” để công bố về “những sự cao trọng của Đức Chúa Trời.”

Những sứ điệp ấy không phải là kết quả của một giây phút cảm xúc dâng trào bồng bột. Trong sự đầy dẫy Thánh Linh, những môn đồ của Chúa tiếp tục rao ra sứ điệp ấy, và không một thế lực tối tăm nào có thể bắt họ phải im lặng. Trong Công-vụ đoạn 2, chàng ngư phủ Phi-e-rơ đã giảng một bài giảng làm cho 3000 người chịu sự cảm động mà tin Chúa Giê-su. Trong Công-vụ đoạn 4, khi những người lãnh đạo Do-thái Giáo buộc họ phải im lặng, các sứ đồ Phi-e-rơ và Giăng đã dõng dạc tuyên bố “thà vâng lời Đức Chúa Trời hơn là vâng lời người ta.” Trong Công-vụ đoạn 7, sự đe dọa của tòa công luận và nguy cơ bị ném đá chết đã không thể làm chấp sự Ê-tiên im lặng. Chàng đã giảng sứ điệp của Chúa cho chính những kẻ đã bắt bớ mình, và trở thành vị thánh tử đạo đầu tiên của Hội Thánh Chúa. Trong Công-vụ đoạn 8, đứng trước cơn bắt bớ dữ dội và phải chạy tan lạc khắp nơi để lánh nạn, những môn đồ của Chúa vẫn không thể im lặng; họ đã “đi từ nơi này đến nơi khác, truyền giảng đạo Tin Lành.” Nói chung, cả sách Công-vụ là lời chứng về việc các sứ đồ và môn đồ của Chúa, dưới sự cảm động của Đức Thánh Linh, đã không thể im lặng mà cứ mạnh mẽ rao truyền sứ điệp Tin Lành của Đức Chúa Trời, bất chấp tất cả những khó khăn, bắt bớ.

Những môn đồ của Chúa trong thời kỳ Hội Thánh Đầu Tiên vẫn được tự do nhóm họp tại hành lang của đền thờ hoặc tại nhà riêng; họ vẫn được tự do “giữ lời dạy của các sứ đồ,” phát triển “sự thông công của anh em,” cử hành “lễ bẻ bánh,” và “cầu nguyện” (Công-vụ 2: 42). Những người lãnh đạo Do-thái Giáo không cấm họ làm những điều đó. Điều duy nhất mà các sứ đồ nói riêng và Hội Thánh Chúa nói chung bị cấm là “nhân danh Đức Chúa Giê-su mà nói hay là dạy” (Công-vụ 4: 18). Nếu các sứ đồ và Hội Thánh Chúa bằng lòng từ bỏ việc rao giảng Tin Lành của Đức Chúa Trời thì những nhà lãnh đạo của Do-thái Giáo có lẽ đã không tìm mọi cách để tiêu diệt họ. Tuy nhiên, họ đã không chấp nhận từ bỏ. Họ trả lời, “chúng tôi không thể không nói về những điều mình đã thấy và nghe.” Họ đã không thể không chia sẻ tình yêu và chân lý của Chúa Giê-su cho người chưa biết Ngài.

Vì sao họ không thể nín lặng? Ít nhất có hai lý do. Thứ nhất, Tin Mừng về Đấng Cứu Thế Phục Sinh mà họ đã trực tiếp kinh nghiệm, được nhân bội bởi sự đầy dẫy Thánh Linh, đã trở thành một ngọn nước tràn bờ trong lòng đã làm cho họ không thể nín lặng. Thứ hai, họ không thể nín lặng vì chỉ khi cất tiếng rao giảng Tin Lành của Chúa thì sự hiện hữu của họ nói riêng và của Hội Thánh nói chung mới thật sự có ý nghĩa. Họ biết không phải vô cớ mà họ được gọi riêng ra để trở thành một cộng đồng đặc biệt của Chúa Cứu Thế. Họ biết Đức Thánh Linh đã tập hợp họ thành Hội Thánh vì họ có một sứ mạng, đó là tiếp tục rao truyền Tin Mừng của Chúa Giê-su. Nếu họ nín lặng thì họ đã từ bỏ sứ mạng của mình, và như thế họ cũng đã làm cho sự hiện hữu của chính mình và của Hội Thánh trở nên vô nghĩa. Nếu không vì sứ mạng rao truyền sứ điệp Tin Lành, thì Chúa Giê-su đã không cần gọi họ bước theo Ngài để trở thành sứ đồ, môn đồ... và Hội Thánh cũng không có lý do gì để tồn tại

Thứ ba, những lời rao giảng Tin Lành mạnh mẽ hay những lời làm chứng chân thành mỗi khi tiếp xúc với những người chưa biết Chúa là kết quả tất nhiên của một đức tin sâu sắc và thành thật nơi Chúa Giê-su. Hãy quan sát sự phát triển của một cái cây. Khi bên dưới đất những chiếc rễ đã đâm sâu vào lòng đất thì bên trên những nhánh cây cũng đồng thời phát triển để rồi một ngày sẽ trưởng thành, đơm bông kết trái. Nếu chặt hết những cành lá đi thì quá trình diệp lục hóa không thể xảy ra, và cái cây không thể sống được nếu chỉ nhờ vào đâm rễ. Một quá trình tương tự như vậy cũng diễn ra trong đời sống thuộc linh của môn đồ Chúa. Khi nói về sự ban cho Đức Thánh Linh, Chúa Giê-su phán: “Đức Thánh Linh mà Cha sẽ nhân danh ta sai xuống . . . sẽ dạy dỗ các ngươi mọi sự, nhắc lại các ngươi mọi điều mà ta đã phán cùng các ngươi” (Giăng 14: 26). Đức Thánh Linh đã đến và dạy dỗ để họ được đâm rễ sâu trong đức tin nơi Chúa Giê-su và lời của Ngài. Nhưng không chỉ như thế, Đức Thánh Linh còn ban cho họ quyền năng không gì có thể khuất phục được để họ vươn ra như những cành cây vạm vỡ, mang lại những bông trái tươi tốt cho vương quốc của Đức Chúa Trời. Quyền năng đó đã giúp cho họ chiến thắng nỗi sợ bên trong và xem thường thế lực thù nghịch bên ngoài để tiếp tục cất lên những tiếng nói bất khuất, rao giảng Tin Lành của Chúa Giê-su về tình yêu thương và ơn cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Quyền năng đó đã khiến nhưng sứ đồ và môn đồ của Chúa Cứu Thế Giê-su, vốn là những con người tầm thường và đầy nhược điểm, trở thành những người đã viết nên những trang sách Công-vụ oai hùng của Kinh Thánh.

Dưới cùng một quyền năng ấy của Đức Thánh Linh, những tiếng nói rao giảng Tin Lành vẫn tiếp tục vang động từ thế hệ này đến thế hệ khác, rao ra Tin Lành của Chúa Giê-su để mang sự cứu rỗi đến cho những tội nhân, để mang lại ánh sáng cho một thế giới tối tăm. Dù quá trình kinh điển (canonization—quá trình sưu tập và hình thành Kinh Thánh) đã chấm dứt và giới hạn sách Công-vụ vào 28 chương, nhưng trong ý nghĩa thuộc linh, những trang sách Công-vụ vẫn tiếp tục được Đức Thánh Linh viết ra bằng lịch sử truyền giáo của Hội Thánh trong mấy mươi thế kỷ qua, và tôi tin rằng những trang sách ấy vẫn còn được viết ra trong thế hệ của chúng ta ngày hôm nay. Đức Thánh Linh trong ngày lễ Ngũ Tuần Đầu Tiên vẫn bất biến, vẫn đang hành động mạnh mẽ qua những Cơ-đốc nhân và những hội thánh đầy dẫy Thánh Linh.

Trong thiên niên kỷ mới này, sách Công-vụ vẫn đang được viết với những trang nhiều khi đầy máu và nước mắt. Trong khi quý vị đang đọc những dòng chữ này thì ở Lybia, Sy-ri... hàng triệu tín đồ Cơ-đốc Giáo đang chịu sự bắt bớ nặng nề nhất trong lịch sử cận đại của Hội Thánh. Tay không một tấc sắt và được trang bị chỉ với tình yêu và chân lý của Chúa Cứu Thế, họ đang phải đối diện với một thế lực tối tăm, lộ diện như những tổ chức khủng bố cực đoan được trang bị với những thứ vũ khí giết người tối tân và lòng căm thù vô cớ. Mỗi ngày họ phải sống trong tiếng gào thét “giết hết những mục sư và đốt hết những nhà thờ của chúng nó.” Nhiều mục sư Sy-ri bị thảm sát; hàng ngàn Cơ-đốc nhân hoặc bị tàn sát hoặc buộc phải trốn chạy khỏi quê hương. Tuy nhiên, Hội Thánh Chúa vẫn kiên trì chịu đựng và không nín lặng.

Một giáo sĩ từ Sy-ri trở về đã kể lại một câu chuyện—một bi kịch của nhân loại nhưng cũng đồng thời là một bài anh hùng ca của Hội Thánh—về sự bắt bớ đối với một mục sư mà anh đã chứng kiến tận mắt. Một buổi sáng, vị mục sư ra đi để giảng đạo tại một hội thánh địa phương, và khi trở về vào trưa hôm đó thì thấy cả bốn đứa con của mình đã bị những kẻ thù ghét đạo Chúa giết chết. Có lẽ không một lời nào của con người có thể nói hết niềm đau trong lòng ông. Tuy nhiên, khi có người hỏi rằng có phải ông sẽ ngưng giảng về Chúa Cứu Thế hay không sau sự bắt bớ kinh khiếp này, ông đã trả lời: “Không ai có thể làm cho tôi im tiếng. Tôi sẽ vẫn tiếp tục giảng lời Đức Chúa Trời. Hơn bao giờ hết, tôi sẽ rao truyền Đấng Cứu Thế và Tin Lành cứu rỗi của Ngài.” (Xin xem hình bên dưới)

Những câu chuyện tương tự có thể nghe thấy ở nhiều nơi trên thế giới, ở những vùng đất mà, chính thức hay không chính thức, đạo Chúa bị “đặt ra ngoài vòng pháp luật.” Dù bối cảnh, mức độ, và cách thức diễn ra của những câu chuyện này ở những nơi khác nhau có thể khác nhau, nhưng tất cả đều có cùng một mẫu số chung, đó là Ma-quỉ sẵn sàng dùng đủ mọi cách để làm im đi tiếng nói của những người ra giảng Tin Lành. Nhưng cũng chính những câu chuyện này cho thấy một điều rất rõ ràng: Ma-quỉ đã thất bại. Không gì có thể làm cho những tôi con Chúa đầy dẫy Thánh Linh phải nín lặng. Một mục sư đang lãnh đạo một hội thánh ở Đa-mách cho biết, “Ở Sy-ri, mặc cho cuộc nội chiến và sự bắt bớ từ quân khủng bố, nhiều người vẫn tiếp tục đến với Chúa Cứu Thế Giê-su.” Về phần mình, ông nói rằng ông sẽ không từ bỏ hội thánh tại Đa-mách nơi ông đang hầu việc Chúa để đi tị nạn. Ông nói, “hơn bao giờ hết, người dân của đất nước tôi cần nghe Tin Lành yêu thương và cứu rỗi của Chúa Giê-su. Tôi phải ở lại, dù có phải trả giá bằng sinh mạng của mình, để rao giảng về điều đó.” Một mục sư ở Ly-bi cũng nói: “Nếu ở Ly-bi chỉ còn một Cơ-đốc nhân, thì tôi cũng sẽ ở lại với người đó.”

Vì sao tôi con Chúa ở những nơi mà việc tin Chúa hay giảng về Chúa cũng đồng nghĩa với việc tự ký bản án tử hình cho mình lại không chịu nín lặng? Chỉ có một câu trả lời đó là họ được đầy dẫy Thánh Linh, họ đã “nghe” tiếng gió từ trời, họ đã “thấy” lưỡi bằng lửa đang thôi thúc trong lòng mình, họ đã nhận được nguồn năng lực vô biên từ Đức Thánh Linh... và vì thế họ không thể ngồi yên, không thể nín lặng. Họ là những Cơ-đốc nhân đang thực sự sống, sống đúng với sự kêu gọi mà Chúa dành cho họ.

Tuy nhiên, có điều đáng buồn là trong khi có những tôi tớ con cái Chúa theo gương của những môn đồ Chúa ngày xưa sẵn sàng liều mình để rao giảng Tin Lành, thì lại có những Cơ-đốc nhân, những hội thánh, những giáo hội... tiếp tục im lặng. Trong vòng hơn hai trăm năm qua, Đức Thánh Linh đã thăm viếng những hội thánh tại Hoa-kỳ, làm bùng lên những ngọn lửa phục hưng mạnh mẽ trong những thời kỳ Đại Tỉnh Thức. Bởi ngọn lửa đó, những bàn chân rao truyền Tin Lành chẳng những đã chạm đến mọi hang cùng ngỏ hẻm của đất nước này mà còn mang Tin Lành của Chúa đến những vùng đất xa xôi của Nam Mỹ, châu Phi, châu Á... trong đó có Việt Nam của chúng ta. Nhưng ngọn lửa đó dường như chỉ còn cháy leo lét tại Hoa-kỳ trong thế hệ của chúng ta.

Trong quyển sách “The Master’s Plan for Making Disciples,” hai tác giả Win và Charles đã nhận xét rằng ở Hoa-kỳ, vốn là chiếc nôi của công cuộc truyền giáo trong những thế kỷ cận đại, việc truyền giáo hiện đang chiếm một vị trí rất thấp trong bảng thứ tự ưu tiên của nhiều giáo hội, hội thánh địa phương, và của tôi con Chúa. Rất ít chủng viện ngày nay tại Hoa-kỳ có phân khoa truyền giáo, và do đó hầu hết những mục sư được đào tạo ra không biết phải truyền giáo như thế nào. Tín hữu thì lại e ngại việc làm chứng cho người khác, phần thì không được huấn luyện, phần thì lại sợ chạm đến vấn đề niềm tin, là một vấn đề nhạy cảm trong xã hội tôn sùng sự riêng tư và chủ nghĩa cá nhân. Ngoài những lý do này, chủ nghĩa tương đối trong thời kỳ hậu hiện đại (postmodernism) mà chúng ta đang sống cũng đang len vào Hội Thánh. Một lãnh đạo cao cấp của một giáo hội có lần đã nói với một vị mục sư dưới quyền: “Đạo nào cũng tốt. Người ta có đạo rồi; đâu cần truyền giáo cho họ làm gì.” Phải chăng những Cơ-đốc nhân, những hội thánh, những giáo hội như vậy đã không còn nghe được “tiếng từ trời như tiếng gió thổi ào ào” mà chỉ còn nghe những tiếng nói xuất phát từ sự “khôn ngoan” của con người, không còn thấy được những “lưỡi bằng lửa” mà chỉ thấy hào quang rực rỡ của sự “giàu có” của giáo hội, không còn nương cậy hoàn toàn vào quyền năng của Đức Thánh Linh mà dựa vào sức lực của chính mình? Phải chăng họ đã quên lời Kinh Thánh nhắc nhở về những hội thánh “có tiếng là sống, nhưng mà là chết” (Khải-huyền 3: 1), về những hội thánh bề ngoài như là “giàu có” nhưng thật ra là “khổ sở, khốn khó, nghèo ngặt, đui mù, và lõa lồ” (Khải-huyền 3: 17)? Phải chăng họ đã quên lời Đức Chúa Trời phán: “Ấy chẳng phải là bởi quyền thế, cũng chẳng phải là bởi năng lực, bèn là bởi Thần ta”? Và phải chăng họ đã quên cả lý do vì sao mà Cơ-đốc nhân và Hội Thánh hiện hữu trên đất này? Phải chăng họ không biết rằng một khi nín lặng, không còn cất tiếng rao giảng Tin Lành nữa, thì “Cơ-đốc nhân” không còn là Cơ-đốc nhân đúng nghĩa và “hội thánh” không còn là hội thánh của Chúa nữa?

Tôi tin một cách sâu sắc rằng Đức Thánh Linh, Đấng đã giáng lâm trong ngày lễ Ngũ Tuần đầu tiên, vẫn còn hành động một cách mạnh mẽ ngày hôm nay, vẫn còn báo hiệu sự hiện diện của Ngài bằng “tiếng từ trời như tiếng gió thổi ào ào” và “lưỡi bằng lửa,” vẫn còn sẵn lòng “đầy dẫy” cho những Cơ-đốc nhân và hội thánh khao khát, nhạy cảm, và sẵn sàng. Ước ao một lần nữa tất cả tôi con Chúa, giống như những sứ đồ và môn đồ đầu tiên ngày xưa, biết quỳ gối xuống cầu xin một cách khao khát và chờ đón Đức Thánh Linh với một tấm lòng trống không để Ngài một lần nữa ngự vào đầy ắp, để một lần nữa Hội Thánh Chúa và tôi con Chúa lại được cháy bùng lên với ngọn lửa nhiệt tình, để lại được thúc dục, không thể ngồi yên, không thể nín lặng, nhưng tiếp tục bước ra một cách mạnh mẽ để rao ra Tin Lành của ánh sáng, tình yêu, và sự cứu rỗi của Chúa Giê-su cho một thế giới tối tăm trong những ngày có thể là cuối cùng của các đời này. Mong thật hết lòng.